Lâm Thanh Hà – Wikipedia tiếng Việt

Lâm Thanh Hà (tên tiếng Trung: 林青霞, tên tiếng Anh: Brigitte Lin Ching-Hsia, sinh ngày 3 tháng 11 năm 1954) là một nữ diễn viên điện ảnh nổi tiếng người Đài Loan. Cô được xem là một trong những nữ diễn viên hàng đầu trên màn ảnh Hồng Kông và Đài Loan trong suốt thập niên 1980.

Lâm Thanh Hà sinh ra trong mái ấm gia đình có cha làm ở xưởng may, mẹ làm nội trợ. Cô là con thứ hai cùng anh cả và cô em gái .Khi Thanh Hà sẵn sàng chuẩn bị vào trung học, mái ấm gia đình cô chuyển nhà từ một Q. phía Nam Gia Nghĩa lên Đài Bắc. Hằng ngày ngoài giờ học, cô còn cùng bạn hữu đi xem phim và từ đó cô khởi đầu mơ ước làm diễn viên hoặc giáo viên mẫu giáo. Thanh Hà hoa cười ngọc thốt đoan trang, thời thiếu nữ thật giống Lâm Đại Ngọc, đến trung niên lại giống Tiết Bảo Thoa. Rất nhiều phụ nữ ngày này đều như vậy, thời thiếu nữ trong lòng là thơ ca, tuổi thanh xuân đa sầu đa cảm, giống hệt như Đại Ngọc. Đến khi bước vào đời, kết hôn, làm vợ, làm mẹ, họ hiểu rằng cần phải mưu trí tinh ý giữa sự đời, họ ngày càng giống Bảo Thoa .

Năm 1972, khi mới 17 tuổi, Lâm Thanh Hà được đạo diễn Tống Tân Thọ phát hiện và mời đến để ký hợp đồng đóng phim Song Ngoại, chuyển thể từ tiểu thuyết cùng tên của Quỳnh Dao.

Thập niên 1970, Thanh Hà Open trong rất nhiều bộ phim tình cảm của Đài Loan, và những bộ phim này hầu hết đều dựa trên những cuốn tiểu thuyết của Quỳnh Dao .Sự nổi tiếng trên màn bạc của Thanh Hà đi liền với những rắc rối trong đời sống riêng của cô. Cô vướng vào mối quan hệ tay ba với hai ngôi sao 5 cánh Tần Hán và Tần Tường Lâm, trong đó Tần Hán lúc này đã là người có mái ấm gia đình và hai con. Vì những tăm tiếng này mà công chúng Đài Loan, vốn rất khó chiều chuộng với hình tượng của những ngôi sao 5 cánh, khởi đầu lạnh nhạt với những bộ phim của Thanh Hà và sự nghiệp của cô gặp rủi ro tiềm ẩn thất bại .

Trở thành diễn viên số 1 Hồng Kông[sửa|sửa mã nguồn]

Đầu thập niên 1980, để tránh những chỉ trích từ dư luận Đài Loan, Lâm Thanh Hà chuyển sang đóng phim ở Hồng Kông. Tại đây cô đã gặp Từ Khắc, đạo diễn và nhà sản xuất đang lên của điện ảnh nước này, và được ông chọn vào vai nữ chính trong bộ phim kiếm hiệp được trông đợi Thục Sơn (蜀山, 1983). Bộ phim sau khi ra mắt đã rất thành công về doanh thu và được xem là tác phẩm cách mạng về mặt kỹ xảo và hình ảnh cho dòng phim kiếm hiệp Hồng Kông, còn vai diễn của Thanh Hà được đánh giá rất cao, cô được đề cử hạng mục Vai nữ chính xuất sắc tại Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông lần thứ 3 (1984) với vai diễn này.

Năm 1985, Thanh Hà được Thành Long mời vào vai nữ chính trong bộ phim mới của anh, Câu chuyện cảnh sát (警察故事). Được xem là một trong những tác phẩm xuất sắc nhất của Thành Long trong giai đoạn ở Hồng Kông, Câu chuyện cảnh sát đã giành được hạng mục Phim hay nhất tại Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông lần thứ 5 còn Thanh Hà cũng được đề cử hạng mục Vai nữ chính thứ hai cho vai nhân chứng được viên cảnh sát Thành Long bảo vệ. Không chỉ thành công với các vai diễn trong phim võ thuật, hành động, Thanh Hà cũng chứng tỏ mình hoàn toàn có khả năng diễn tốt những vai nội tâm phức tạp với bộ phim Đao mã đán (刀馬旦, 1986), một tác phẩm cũng do Từ Khắc đạo diễn.

Đỉnh cao trong sự nghiệp của Thanh Hà ở Hồng Kông là giai đoạn đầu thập niên 1990. Cô liên tục có các vai diễn thành công trong các phim Tiếu ngạo giang hồ chi Đông Phương Bất Bại (笑傲江湖之東方不敗, 1991), Tân Long Môn Khách sạn (新龍門客棧, 1992), Lộc Đỉnh ký (鹿鼎記, 1992), Bạch phát ma nữ truyện (白髮魔女傳, 1993). Đặc biệt vai diễn Đông Phương Bất Bại của Thanh Hà trong Tiếu ngạo giang hồ chi Đông Phương Bất Bại được nhớ đến vì đạo diễn Trình Tiểu Đông đã dám chọn một nữ diễn viên xinh đẹp hàng đầu Hồng Kông vào một vai đàn ông, và Thanh Hà đã không phụ sự tin tưởng của ông khi diễn rất đạt không chỉ những đoạn hành động mà cả những đoạn bộc lộ tình cảm của Đông Phương Bất Bại với Lệnh Hồ Xung (do Lý Liên Kiệt thủ vai). Sau nhiều vai diễn trong các phim hành động và hài, Thanh Hà tham gia hai bộ phim tâm lý của đạo diễn Vương Gia Vệ, Đông Tà Tây Độc (東邪西毒, 1994) và Trùng Khánh Sâm Lâm (重慶森林, 1995). Cả hai vai Mộ Dung Yên (trong Đông Tà Tây Độc) và Người đàn bà không tên (trong Trùng Khánh Sâm Lâm) của Thanh Hà đều được đánh giá cao. Đây là giai đoạn Thanh Hà được xem là ngôi sao nữ hàng đầu của Hồng Kông và là diễn viên yêu thích của nhiều đạo diễn. Từ Khắc đánh giá cô là người không thể thay thế được[1], còn Châu Tinh Trì khi được phỏng vấn về nữ diễn viên anh yêu thích đã lập tức trả lời rằng đó là Lâm Thanh Hà[2]. Tuy vậy Thanh Hà không có duyên với các giải thưởng điện ảnh, cô chỉ một lần duy nhất đoạt giải Vai nữ chính xuất sắc nhất tại Giải Kim Mã Đài Loan năm 1990 cho phim Cổn cổn hồng trần (滾滾紅塵).

Sau hai vai diễn trong phim của Vương Gia Vệ, Thanh Hà kết hôn với thương gia nổi tiếng họ Hình và đột ngột từ giã điện ảnh. Kể từ năm 1994 cô không còn xuất hiện trong bất cứ bộ phim nào mặc dù đã được nhiều đạo diễn và người hâm mộ đề nghị.[3]

Lâm Thanh Hà có mối quan hệ lê dài 19 năm với nam diễn viên Tần Hán, kể từ lúc anh còn đang có mái ấm gia đình niềm hạnh phúc cho đến khi ly hôn, tuy nhiên hai người chưa khi nào tiến đến hôn nhân gia đình [ 3 ]. Cô từng đính hôn với Tần Tường Lâm vào năm 1980, sau đó hủy bỏ hôn ước .Cuối cùng năm 1994 cô kết hôn với Hình Lý Nguyên, một người kinh doanh, quản trị của tập đoàn lớn Esprit Holdings ( hãng giữ bản quyền thương hiệu thời trang Esprit nổi tiếng ). Năm 1997 ở tuổi 43 cô mang thai con gái đầu lòng và sinh con gái thứ hai vào năm 2001 .

Danh sách phim[sửa|sửa mã nguồn]

( Danh sách không rất đầy đủ )

Năm

Tựa phim

Ghi chú

1973
Song ngoại (Outside the Window) (窗外)
Vai diễn đột phá

1974
The River of Cloudy

Girl Friend

The House of Love

Long Way From Home

Love Love Love

Gone With The Cloud

Ghost of the Mirror

Moon River

1975
He Loved Once Too Many

Bên dòng nước (The Unforgettable Character) (在水一方)

Evergreen Tree

Hot Wave

The Life God

Love Story of Pian Pian

Misty Drizzle

Run Lover Run

1976
Autumn Love Song

The Beauty With Two Faces

The Chasing Game

Come Fly With Me

Different Love

Forever My Love

Love By Post

My Funny Intern

Tomorrow I’m 20

Yesterday, Today and Tomorrow

1977
Tám trăm tráng sĩ (Eight Hundred Heroes)
Liên hoan phim châu Á – Thái Bình Dương:
Vai nữ chính xuất sắc nhất (Đoạt giải)

Em là áng mây (Cloud of Romance) (我是一片云)

Hồng Lâu Mộng (The Dream of the Red Chamber)

The Love Affair of Rainbow

My Sweet Love

Orchid In The Rain

There’s No Place Like Home

1978
Trăng ảo chim huyền (The Misty Moon) (月朦胧鸟朦胧)

Everywhere Birds Are Singing

Love of the White Snake

Love’s Many Faces

Morning Fog

Tình yêu trong sáng (Love Under a Rosy Sky) (彩霞滿天)

1979
Hạt đậu tương tư (Love Seed) (一顆鶢豆)

The Choice of Love

An Unforgettable Day

Wild Goose on the Wing

1980
Cúc vạn thọ (The Marigolds) (金盏花)

Magnificent 72
Giải thưởng Kim Mã:
Nữ diễn viên xuất sắc nhất ( Đề cử )

Off to Success

Poor Chasers

The Story of Green House

1981
Love Massacre

Women Soldiers

1982
Fantasy Mission Force

Burn Phoenix Burn

Lily Under The Muzzle

Pink Force Commando

1983
Zu Warriors from the Magic Mountain
Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông:
Nữ diễn viên xuất sắc nhất ( Đề cử )
Demon Fighter

Gián điệp Dạ Lý Hương (All the Wrong Spies)

Black and White

Tình Ám Ảnh (By Love Obsessed)

Fantasy Mission Force

Golden Queen’s Commandos

1984
Hoàng Phi Hồng: Thiết Kê Đấu Ngô Công (Last Hero In China)

The Other Side of Gentleman

Phoenix The Raider

1985
Câu chuyện cảnh sát (Police Story)
Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông:

Nữ diễn viên xuất sắc nhất (Đề cử)

Seven Foxes

1986
Đao Mã Đán (Peking Opera Blues)

Dream Lovers

True Colours

1987
Hoạch Tài 30 Triệu (The Thirty Million Dollar Rush)

Flag of Honor

Lady in Black

1988
Starry is the Night (今夜星光燦爛)

1989
Kinh Hồn Ký (驚魂記) (Web of Deception)

1990
Cổn cổn hồng trần (滚滚红尘)
Giải Kim Mã:
Vai nữ chính xuất sắc nhất (Đoạt giải)

1991
Tiếu ngạo giang hồ: Đông Phương Bất Bại
Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông:
Nữ diễn viên xuất sắc nhất ( Đề cử )

1992
Tân Long Môn Khách sạn (New Dragon Gate Inn)

Tân Tuyệt Đại Song Kiều (Handsome Siblings)
Giải thưởng Điện ảnh Hồng Kông:
Nữ diễn viên xuất sắc nhất ( Đề cử )
Lộc Đỉnh ký (Royal Tramp)

Lộc Đỉnh ký 2: Thần long giáo (Royal Tramp II)

1992
The Peach Blossom Land

1993
Tiếu ngạo giang hồ: Phong Vân Tái Khởi (Swordsman III)

Thủ Đoạn Cua Trai (Boys Are Easy)

Hắc Báo Thiên Hạ (The Black Panther Warriors)

Lục Chỉ Cầm Ma (Deadful Melody)

Bạch Phát Ma Nữ Truyện (The Bride with White Hair)

Bạch Phát Ma Nữ Truyện 2 (The Bride with White Hair 2)

Đông Thành Tây Tựu (The Eagle Shooting Heroes)

1994
Đông Tà Tây Độc
Trùng Khánh Sâm Lâm

Hỏa Vân Tà Thần (Fire Dragon)

Thiên Long Bát Bộ (The Dragon Chronicles – The Maidens)

Giang Hồ Tam Hiệp (The Three Swordsmen)

1998
Mĩ thiếu niên chi luyến / Bishonen

2001
Du Viên Kinh Mộng (Peony Pavilion)
遊園驚夢
[ 4 ] [ 5 ]

Liên kết ngoài[sửa|sửa mã nguồn]